Chứng nhận hợp quy chất lượng sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Tuân thủ đúng pháp luật, lấy lòng tin của khách hàng, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.

Đa dạng hóa sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Cung cấp thông tin khoa học, dây chuyền sản xuất, các sản phẩm thức ăn chăn nuôi trong nước và quốc tế.

Đồng hành cùng các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Chắp cánh cùng doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi vươn xa tầm quốc tế.

Thông tin và cơ chế pháp luật trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Cung cấp các thông tin và quy định văn bản pháp luật hiện hành cùng cách triển khai tới các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi.

Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2017

Nhập khẩu hơn 8 triệu tấn bắp làm thức ăn chăn nuôi

Diện tích trồng bắp trong nước hiện dao động hơn 1 triệu ha, tuy nhiên, năng suất trung bình còn khá thấp, chỉ ở mức 4,6 tấn/ha. Điều này dẫn đến nghịch cảnh Việt Nam là một nước nông nghiệp, nhưng tỉ lệ nhập khẩu ngô để làm thức ăn chăn nuôi là rất cao. 


Hằng năm, Việt Nam vẫn phải chi một lượng lớn ngoại tệ để nhập khẩu bắp hạt về phục vụ nhu cầu chế biến thức ăn chăn nuôi trong nước. Đó chính là mâu thuẫn nội tại của ngành trồng trọt, khi mà gạo thì xuất khẩu, thậm chí xuất khẩu khó khăn còn bắp thì nhập khẩu chiếm giá trị lớn trên 1,65 tỉ USD trong năm 2016. Ông Trần Xuân Định, Cục phó Cục Trồng trọt, cho biết giá bắp nhập khẩu giảm mạnh trong những năm gần đây khiến tổng lượng nhập khẩu bắp về Việt Nam tăng nhanh, cụ thể năm 2016, Việt Nam nhập 8,3 triệu tấn. Điều này tạo ra áp lực rất lớn đối với nông dân trồng bắp trong nước.


Tăng năng suất


Được biết cây bắp vẫn là cây lương thực quan trọng. Với nhu cầu thực phẩm, thức ăn chăn nuôi ngày một tăng như hiện nay, việc chủ động về nguồn cung sẽ giúp bảo đảm an ninh lương thực, đồng thời tránh khỏi tình trạng bị phụ thuộc và thất thoát ngoại tệ khi phải nhập khẩu bắp. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn định hướng duy trì diện tích canh tác như hiện tại nhưng tăng cao giá trị và sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích canh tác. Theo đó, khuyến khích ứng dụng các loại giống mới, phương pháp canh tác tiên tiến và đẩy mạnh cơ giới hóa. Năng suất bắp trung bình của Việt Nam còn đang ở mức rất thấp do điều kiện canh tác không thuận lợi, địa hình khó khăn, việc ứng dụng các giống mới kháng lại các tác nhân bất thuận sẽ giúp bảo đảm năng suất tiềm năng và nhờ đó nâng cao sản lượng và chất lượng bắp sau thu hoạch. Việc đưa các giống công nghệ sinh học vào sản xuất trong những năm gần đây bước đầu tạo ra các tín hiệu tích cực khi năng suất và thu nhập của nông dân trồng bắp được cải thiện rõ rệt.
Kết quả hình ảnh cho Ngô nhập khẩu
Cần có những biện pháp thiết thực để tăng năng suất trồng ngô hiện tại. 


Theo Viện Chính sách và Phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD), việc hình thành các chuỗi giá trị khép kín trong sản xuất bắp sẽ là giải pháp chủ yếu giúp nâng cao tính cạnh tranh của bắp Việt Nam. Năng suất bắp tại Việt Nam còn ở mức khá thấp so với thế giới và chỉ đủ đáp ứng khoảng 40%-50% nhu cầu tiêu thụ trong nước nên phải nhập khẩu để bù đắp lượng thiếu hụt. Dự đoán nhu cầu về thức ăn chăn nuôi của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới, đến năm 2020, Việt Nam sẽ cần khoảng 9 triệu tấn bắp và sản xuất trong nước vẫn sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu. Đồng thời quá trình hội nhập, thuế nhập khẩu đối với bắp sẽ có xu hướng giảm. Tất cả nhân tố trên sẽ tạo áp lực rất lớn cho sản xuất trong nước.


Cung không đủ cầu


Để tăng sức cạnh tranh, vấn đề cốt lõi đó là nâng cao chất lượng sản xuất bắp đồng thời tổ chức lại sản xuất, giảm bớt can thiệp của quá nhiều tác nhân trung gian tham gia vào chuỗi giá trị. Mô hình tổ nhóm hợp tác xã kết nối trực tiếp với doanh nghiệp được đưa ra như một giải pháp quan trọng, trong đó nông dân liên kết sản xuất, doanh nghiệp trực tiếp hỗ trợ về phương tiện, giống, kỹ thuật canh tác và bảo đảm xử lý, bao tiêu sau thu hoạch.

Được biết Việt Nam nằm trong nhóm các nước có mức tiêu thụ bắp lớn nhất thế giới, với tỉ lệ tăng trưởng qua các năm hơn 12%. Hiện tại, thị trường châu Mỹ đang là nơi xuất khẩu bắp chính sang châu Á, châu Phi và các khu vực khác. Đáng chú ý là mức độ nhập khẩu tại tất cả châu lục đều tăng qua các năm và dự báo đến năm 2020, mức tiêu thụ bắp toàn cầu sẽ khoảng 1.074 triệu tấn (năm 2016 là 1.021 triệu tấn), trong đó châu Á và châu Phi sẽ tăng 20%. Với năng suất như hiện nay (năm 2016 thế giới sản xuất được khoảng khoảng 1.040 triệu tấn), đến năm 2050, sản xuất bắp thế giới sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu, đồng nghĩa với việc nguồn cung về bắp sẽ không còn dư thừa đề xuất khẩu sang các thị trường còn thiếu như châu Á, trong đó có Việt Nam. Nếu không sớm có các phương án để chủ động tốt hơn về sản xuất ngô nội địa, Việt Nam sẽ gặp khó theo xu hướng này. Bài toán của Việt Nam và nhiều nước trồng bắp khác hiện nay đó là cần gia tăng năng suất trên diện tích sẵn có để gia tăng sản lượng.

Ông Dương Gia Định, Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật và trồng trọt tỉnh Sơn La, cho biết bắp là cây trồng chủ lực của tỉnh và là nguồn thu nhập chính của nông dân. Diện tích trồng bắp hiện tại của tỉnh khoảng 152.000 ha, tuy nhiên, năng suất rất thấp do gặp nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất và sự không đồng đều giữa các vùng, thường đạt mức 3,89 tấn/ha gần như thấp nhất cả nước. Năm 2017, diện tích giảm 4,7% so với cùng kỳ năm trước do gặp nhiều khó khăn đến từ điều kiện canh tác và xu hướng giá bắp thương phẩm giảm. Xử lý bắp sau thu hoạch cũng là một trong những quan ngại lớn của tỉnh, các hộ nông dân thường chỉ bán bắp tươi, bán ngay tại ruộng cho thương lái với điều kiện phơi sấy rất hạn chế. Chất lượng bắp thương phẩm vì thế không được bảo đảm. Đây là tình hình chung tại các vùng trồng bắp trên cả nước.

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 11/2017

TÌNH HÌNH CHUNG 

Theo Bộ NN&PTNT, đàn trâu, bò cả nước trong tháng 11/2017 nhìn chung không có biến động lớn. Theo kết quả sơ bộ điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017 của Tổng cục Thống kê, đàn trâu cả nước có 2,49 triệu con, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2016; đàn bò có 5,6 triệu con, tăng 2,6%. Tình hình chăn nuôi lợn vẫn gặp khó khăn, thị trường tiêu thụ trong tháng chưa có nhiều chuyển biến tích cực, giá bán sản phẩm vẫn ở mức thấp khiến quy mô đàn tiếp tục giảm so với cùng kỳ. Ước tính đàn lợn cả nước có 27,3 triệu con, giảm 6,2% so với cùng kỳ năm 2016.
Chăn nuôi trâu, bò: Đàn trâu, bò cả nước trong tháng nhìn chung không có biến động lớn. Trong tháng các ổ dịch lở mồm long móng xảy ra trong phạm vi nhỏ lẻ ở một số tỉnh nhưng vẫn cần những biện pháp phòng dịch và kiểm soát vận chuyển nghiêm túc để tránh nguy cơ mầm bệnh phát sinh tại các vùng khác. Theo kết quả sơ bộ điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017 của Tổng cục Thống kê, đàn trâu cả nước có 2,49 triệu con, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2016; đàn bò có 5,6 triệu con, tăng 2,6%.
Chăn nuôi lợn: Thị trường tiêu thụ trong tháng chưa có nhiều chuyển biến tích cực, giá bán sản phẩm vẫn ở mức thấp khiến quy mô đàn tiếp tục giảm so với cùng kỳ. Nhiều hộ chăn nuôi hiện nay phải kết hợp sử dụng thức ăn công nghiệp và thức ăn thô hộ tự sản xuất, nhằm tiết kiệm một phần chi phí trong chăn nuôi. Theo kết quả sơ bộ điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017, đàn lợn cả nước có 27,3 triệu con, giảm 6,2% so với cùng kỳ năm 2016.
Chăn nuôi gia cầm: Đàn gia cầm cả nước nhìn chung tiếp tục phát triển ổn định. Tuy vậy trong tháng, thời tiết mưa nắng xen kẽ dễ làm phát sinh các loại dịch bệnh ở gia cầm nên công tác phòng chống dịch bệnh cho các loại vật nuôi vẫn cần quan tâm và theo dõi chặt chẽ. Theo kết quả sơ bộ điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017, đàn gia cầm cả nước ước có 385,2 triệu con, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2016.
Chế biến thịt gia súc, gia cầm: C ác cơ sở giết mổ, chế biến thịt qui mô công nghiệp chỉ sử dụng được khoảng 30% công suất. Các công ty đang tăng cường liên kết chuỗi trong chăn nuôi, chế biến để xuất khẩu thịt an toàn, đáp ứng yêu cầu các nước nhập khẩu (thịt lợn, thịt gà). Việc kiểm soát chất lượng thịt tại cơ sở giết mổ đang gặp khó khăn để cung cấp cho thị trường các thành phố lớn (tiêm thuốc an thần cho heo; khó khăn trong việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm).

Dịch bệnh: Theo Cục Thú y – Bộ NN&PTNT, tính đến thời điểm 26/11/2017, tình hình dịch bệnh trong cả nước như sau:
 Dịch Cúm gia cầm (CGC)
Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.
Hiện nay, cả nước không có dịch Cúm gia cầm.
Dịch Lở mồm long móng gia súc (LMLM)
Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.
Hiện nay, cả nước có 04 ổ dịch LMLM chưa qua 21 ngày tại xã (Gia Phố, Phú Phong, Hương Xuân) thuộc huyện Hương Khê của tỉnh Hà Tĩnh và 01 ổ dịch tại xã Quảng Điền huyện Krông Ana tỉnh Đắk Lắk.
Dịch Tai xanh trên lợn
Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.
Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh.
Nhận định tình hình dịch
Cúm gia cầm: Nguy cơ dịch phát sinh và lây lan trong thời gian tới là rất cao. Một số chủng vi rút cúm gia cầm chưa có ở Việt Nam (A/H7N9, A/H5N2, A/H5N8) có nguy cơ xâm nhiễm vào trong nước thông qua các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh, thành phố khác có tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu. Các địa phương cần chủ động trong công tác phòng, chống Cúm gia cầm; tăng cường kiểm soát và xử lý nghiêm việc nhập lậu gia cầm, giám sát chặt địa bàn để phát hiện và xử lý ổ dịch kịp thời.
Lở mồm long móng: Các ổ dịch chủ yếu xảy ra tại các đàn gia súc chưa được tiêm phòng vắc xin LMLM hoặc do gia súc mắc bệnh được vận chuyển từ vùng có dịch. Do đó, các địa phương thuộc khu vực có nguy cơ cao, nơi có ổ dịch cũ, có đàn gia súc chưa được tiêm phòng triệt để, đặc biệt các địa phương có dự án cung ứng con giống gia súc, xóa đói giảm nghèo cần tăng cường giám sát, phát hiện sớm ổ dịch, tổ chức tiêm phòng vắc xin LMLM, kiểm soát chặt việc vận chuyển gia súc, quản lý giết mổ gia súc để giảm thiểu nguy cơ phát sinh, lây lan dịch.
Tai xanh trên lợn: Trong thời gian tới, có thể xuất hiện các ổ dịch nhỏ lẻ trên địa bàn có ổ dịch cũ và khu vực có nguy cơ cao. Các địa phương cần tăng cường giám sát dịch bệnh trên đàn lợn, phát hiện sớm ổ dịch, thực hiện nghiêm các qui định về kiểm dịch vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tăng cường kiểm soát giết mổ lợn, chủ động ngăn chặn dịch phát sinh và lây lan.
Các địa phương căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút Cúm gia cầm, Tai xanh và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2016 (văn bản số 2151/TY-DT ngày 24/10/2016) và thông báo lưu hành vi rút LMLM và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (công văn số 2168 /TY-DT ngày 05/10/2017) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

 THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI TRONG NƯỚC

Giá lợn hơi trên địa bàn cả nước tháng qua biến động tăng nhẹ 1.000 – 2.000 đ/kg phổ biến trong khoảng 27.000 – 30.000 đ/kg so với tháng trước. Tuy nhiên, mức giá này đã giảm từ 2.000 – 4.000 đ/kg so với hồi tháng 9/2017. Tại khu vực phía Bắc, các tỉnh đang có giá lợn hơi cao nhất là Hà Nội, Thái Bình, Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Giang với giá từ 28.000 – 30.000 đ/kg. Tại các tỉnh như Yên Bái, Phú Thọ, Hà Nam…, giá lợn hơi hiện khoảng 27.000 đ/kg. Tại thị trường Đồng Nai – thủ phủ chăn nuôi lợn, gà lớn nhất khu vực Đông Nam Bộ, giá lợn loại 1 hiện đang duy trì từ 29.000 – 30.000 đ/kg, tuy nhiên lợn thường thì chỉ đạt mức 26.000 – 27.000 đ/kg, giảm khoảng 2.000 – 4.000 đ/kg so với hồi tháng 9/2017.
Giá thu mua gà thịt lông trắng khu vực Đông Nam Bộ và ĐBSCL biến động tăng do nhu cầu tiêu dùng khởi sắc: giá tăng 6.000 – 7.000 đ/kg lên 29.000 – 30.000 đ/kg so với tháng 10/2017. Tuy nhiên, giá gà thịt lông màu tại 2 khu vực lại giảm 5.000 – 6.000 đ/kg xuống mức 33.000 – 35.000 đ/kg so với tháng trước do nhu cầu tiêu thụ đang chậm lại. Giá trứng gà tăng 300 – 350 đ/quả lên 1.750 – 1.800 đ/quả; giá trứng vịt tăng 200 đ/quả lên 2.100 – 2.200 đ/quả.
HeoGà lông màuGà lông trắngVịt siêu thịt03/01/1321/01/1319/02/1318/03/1324/04/1327/05/1328/06/1326/07/1326/08/1326/09/1325/10/1328/11/1307/01/1414/02/1414/03/1411/04/1416/05/1420/06/1422/07/1426/08/1426/09/1404/11/1406/01/1510/03/1512/05/1514/07/1515/09/1517/11/1519/01/1622/03/1624/05/1626/07/1627/09/1630/11/1631/01/1704/04/1706/06/1708/08/1710/10/17015…30…45…60…
HeoGà lông màuGà lông trắngVịt siêu thịt
03/01/1343.00047.00032.00050.000
07/01/1343.00047.00032.00048.000
09/01/1344.00047.00033.00048.000
11/01/1343.00049.00032.00048.000
14/01/1343.00049.00032.00048.000
15/01/1343.00049.00032.00048.000
16/01/1343.50048.00032.00048.000
17/01/1343.50050.00032.00051.000
18/01/1343.50052.00032.00051.000
21/01/1343.50052.00032.00051.000
23/01/1343.50052.00032.00051.000
25/01/1343.50052.00027.00048.000
28/01/1343.50052.00027.00048.000
30/01/1343.50052.00024.00048.000
31/01/1343.50052.00024.00048.000
01/02/1343.50048.00024.00048.000
04/02/1342.00046.00024.00046.000
06/02/1342.00046.00024.00046.000
19/02/1341.00049.00032.50044.000
22/02/1341.00051.00032.50041.000
25/02/1341.00051.00035.00041.000
28/02/1340.00051.00035.00041.000
04/03/1340.00046.00033.00039.000
06/03/1339.00042.00031.00037.000
09/03/1338.00040.00031.00035.000
12/03/1338.00038.00035.00037.000
15/03/1338.00035.00033.50037.000
18/03/1338.00034.00035.50037.000
22/03/1338.00036.00035.50037.000
26/03/1338.00037.00036.50035.000
29/03/1338.00039.00037.50035.000
02/04/1338.00037.50038.50035.000
05/04/1339.00039.00038.50035.000
10/04/1339.00040.00038.50035.000
16/04/1338.00044.00037.00035.000
21/04/1338.00044.00037.00035.000
24/04/1338.00043.00038.00035.000
26/04/1338.00043.00028.00035.000
02/05/1338.00040.00020.00032.000
06/05/1338.00037.00019.00031.000
08/05/1338.00037.00019.00030.000
13/05/1338.00036.00020.00030.000
16/05/1338.00033.00022.00030.000
20/05/1338.00029.00018.00030.000
24/05/1340.50029.00016.00030.000
27/05/1340.50028.00017.00031.500
31/05/1340.50028.00021.00031.500
03/06/1340.50028.00022.00031.500
04/06/1340.50028.00026.00031.500
07/06/1342.00028.00028.00034.000
12/06/1342.00028.00028.00034.000
18/06/1342.00028.00027.00034.000
21/06/1340.50027.00023.00034.000
25/06/1341.00027.00027.00038.000
28/06/1341.00026.00026.00040.000
01/07/1341.00026.00026.00040.000
07/07/1340.00028.00031.00040.000
10/07/1340.00028.00031.00040.000
12/07/1340.00032.00032.00040.000
16/07/1340.00033.00032.00040.000
19/07/1340.00040.00035.00040.000
22/07/1341.50038.00035.00045.000
24/07/1341.50036.00035.00045.000
26/07/1342.00035.00035.00045.000
30/07/1343.00034.00035.00046.000
02/08/1343.00034.00031.00046.000
05/08/1344.00036.00032.00050.000
08/08/1344.00038.00032.00050.000
13/08/1344.00040.00032.00048.000
16/08/1344.00044.00032.00048.000
20/08/1345.00045.00032.00048.000
23/08/1346.00045.00032.00048.000
26/08/1346.00043.00032.00051.000
30/08/1347.00040.00032.00051.000
04/09/1347.00040.00033.00051.000
06/09/1347.00040.00033.00049.000
09/09/1346.00042.00034.00049.000
13/09/1346.00042.00034.00050.000
17/09/1346.00042.00034.00050.000
20/09/1346.00040.00037.00050.000
23/09/1346.00041.00038.50048.000
26/09/1347.00041.00035.00048.000
02/10/1346.00043.00037.00046.000
04/10/1346.00045.00037.00046.000
08/10/1347.00045.00037.00047.000
11/10/1347.00045.00037.00047.000
14/10/1347.00046.00038.00042.000
17/10/1347.00046.00038.00042.000
18/10/1347.00045.00038.00041.000
22/10/1347.00044.00034.00039.000
25/10/1346.00044.00034.00039.000
28/10/1346.00044.00031.00036.000
01/11/1346.00043.00030.00036.000
04/11/1347.50042.00029.00035.000
08/11/1348.00039.00027.00035.000
12/11/1348.00039.00027.00035.000
15/11/1347.00038.00023.00035.000
19/11/1347.00038.00023.00035.000
22/11/1347.00038.00027.00035.000
28/11/1348.50038.00030.00033.000
02/12/1348.50038.00030.00033.000
05/12/1350.00044.00030.00033.000
11/12/1350.00040.00027.00033.000
17/12/1350.00039.00025.00032.000
20/12/1350.00039.00025.00032.000
24/12/1349.00038.00026.00031.000
27/12/1349.00038.00029.00034.000
30/12/1349.00035.00029.00034.000
07/01/1449.00035.00023.00033.000
09/01/1451.00035.00019.00033.000
13/01/1451.00032.00020.00035.000
15/01/1451.00031.00018.00034.000
17/01/1449.50035.00019.00034.000
21/01/1448.50037.00017.00032.000
24/01/1448.50039.00022.00033.000
07/02/1447.50037.00016.00033.000
11/02/1447.50037.00026.00033.000
14/02/1447.50032.00031.00033.000
18/02/1446.50031.00033.00034.000
21/02/1447.50030.00034.00034.000
25/02/1448.50027.00031.00033.000
28/02/1449.00026.00025.00032.000
04/03/1449.00026.00029.00032.000
05/03/1451.00026.00029.00033.500
07/03/1451.00023.00031.50033.500
11/03/1451.00028.00033.00033.500
14/03/1452.50030.50030.50033.500
18/03/1451.50031.50028.50033.500
21/03/1451.50033.00028.50033.500
22/03/1451.50033.00028.50033.500
25/03/1451.50034.00032.50035.000
28/03/1451.50038.00032.50033.500
01/04/1452.50033.00027.00037.000
04/04/1452.50034.00027.00037.000
08/04/1453.00037.00028.00043.000
11/04/1453.00038.00029.50043.000
15/04/1454.00038.00026.50043.000
18/04/1454.00040.00027.50043.000
22/04/1455.00042.00025.50038.000
25/04/1455.00042.00025.50038.000
29/04/1454.50042.00026.50038.000
06/05/1455.00043.50029.50039.000
09/05/1455.00042.50030.50037.000
13/05/1454.00042.50032.50037.000
16/05/1455.00043.50033.00037.000
20/05/1456.50046.00034.50039.000
23/05/1456.50049.00036.50039.000
27/05/1456.50049.00036.50039.000
30/05/1456.50050.00036.50041.000
03/06/1456.60051.00037.00043.000
06/06/1456.50051.00037.00043.000
10/06/1456.50049.00039.00043.000
13/06/1456.50048.00039.00043.000
20/06/1456.00043.00038.00045.000
24/06/1456.00039.00037.00045.000
27/06/1455.00038.00037.00045.000
01/07/1455.00036.00035.50045.000
04/07/1455.00035.00035.50045.000
08/07/1455.00034.00031.50045.000
11/07/1455.00036.00027.00052.000
15/07/1455.00038.00028.00052.000
18/07/1455.00040.00027.00054.000
22/07/1455.00042.00027.00056.000
25/07/1455.00042.00027.00056.000
29/07/1455.00043.00031.00056.000
01/08/1455.00043.00034.00056.000
05/08/1455.00044.00036.00056.000
08/08/1455.00044.00035.00056.000
12/08/1455.00043.00036.00054.000
15/08/1455.00041.00036.00054.000
19/08/1455.00041.00034.50054.000
26/08/1455.00037.00034.00054.000
29/08/1455.00036.00034.00055.000
02/09/1455.00039.00034.00055.000
05/09/1455.00039.00026.00054.000
09/09/1455.00040.00027.00054.000
12/09/1455.00040.50029.00052.000
16/09/1455.00041.00030.00050.000
19/09/1455.00041.00030.00040.000
23/09/1455.00043.00031.50037.000
26/09/1454.00044.00031.50036.000
30/09/1454.00044.00031.50035.000
03/10/1453.00044.00033.50035.000
07/10/1453.00044.00035.50035.000
10/10/1453.00045.00035.50035.000
14/10/1453.00045.00036.00035.000
17/10/1453.00046.00036.00035.000
21/10/1452.00046.00035.50035.000
27/10/1451.50046.00031.00032.000
04/11/1451.00042.00026.00032.000
11/11/1450.00040.00027.50030.000
18/11/1450.00040.00028.00030.000
25/11/1448.50041.00030.50029.000
02/12/1448.00043.00027.50034.000
09/12/1448.00036.50026.00034.000
16/12/1448.50036.00025.00041.000
23/12/1448.50032.00024.00036.000
30/12/1448.00035.00023.50036.000
06/01/1548.00036.00023.00037.000
13/01/1548.00037.00026.50037.000
20/01/1548.00037.00028.50039.000
27/01/1547.50036.00027.50039.000
03/02/1547.00038.00023.00040.000
10/02/1546.00040.00024.50037.000
17/02/1546.00041.00023.50037.000
24/02/1546.00044.00024.50040.000
03/03/1547.00043.00027.50040.000
10/03/1547.50045.00027.00040.000
17/03/1548.00046.00023.50040.000
24/03/1548.50047.00020.50043.000
31/03/1548.50047.00026.00041.000
07/04/1548.50047.00027.50041.000
14/04/1548.50046.00029.50041.000
21/04/1548.50047.00027.50041.000
28/04/1547.50050.00023.00041.000
05/05/1547.50051.00024.50042.000
12/05/1547.50051.00021.05040.000
19/05/1547.00049.00026.50040.000
26/05/1547.00049.00027.00040.000
02/06/1547.50049.00028.00040.000
09/06/1547.00048.00023.50041.000
16/06/1547.50045.00020.50040.000
23/06/1546.50047.00022.50041.000
30/06/1546.00046.00022.50040.000
07/07/1546.00043.00024.00035.000
14/07/1546.50039.00024.50035.000
21/07/1547.50033.50022.50034.000
28/07/1547.50033.50022.50034.000
04/08/1547.00034.00020.00035.000
11/08/1546.50029.00019.50034.000
18/08/1545.50022.00023.00036.000
25/08/1545.50035.00023.50036.000
01/09/1545.50033.00024.00036.000
08/09/1546.00028.00024.50035.500
15/09/1545.50027.00026.50035.000
22/09/1545.00029.00028.00035.000
29/09/1544.00030.00029.50035.000
06/10/1545.00029.00029.50035.000
13/10/1545.00030.00026.50035.000
20/10/1545.00030.00026.00032.000
27/10/1545.00032.00027.00031.000
03/11/1545.00032.00026.00031.000
10/11/1545.50033.00024.50031.000
17/11/1545.50033.00020.50034.000
24/11/1545.50034.00021.50034.000
01/12/1546.00035.00017.50034.000
08/12/1547.00037.00019.00034.000
15/12/1547.00037.00017.00034.000
22/12/1547.00035.00016.50039.000
29/12/1546.00038.00019.00039.000
05/01/1646.00040.00023.50042.000
12/01/1645.50038.00025.00041.000
19/01/1645.00037.00025.00043.000
26/01/1641.00035.00026.50043.000
02/02/1640.00035.00028.50040.000
09/02/1640.00035.00028.50040.000
16/02/1644.00038.00031.00041.000
23/02/1645.00035.00030.00034.000
01/03/1643.00031.00024.50028.000
08/03/1643.00030.00022.00028.000
15/03/1644.00028.00024.00030.000
22/03/1647.00026.00027.00033.000
29/03/1648.00032.00027.00033.000
05/04/1649.00033.00026.50037.000
12/04/1650.00038.00027.50033.000
19/04/1651.00039.00028.00030.000
26/04/1652.50041.00028.00030.000
03/05/1653.50040.00027.50030.000
10/05/1654.00040.00023.50030.000
17/05/1650.00041.00025.00038.000
24/05/1650.50039.00025.50038.000
31/05/1649.50037.00027.50041.000
07/06/1648.50036.00026.50041.000
14/06/1648.50036.00027.00038.000
21/06/1647.50036.00023.00037.000
28/06/1647.50036.00024.00038.000
05/07/1647.50036.00025.00038.000
12/07/1647.50035.00025.00038.000
19/07/1642.50035.00025.00038.000
26/07/1646.50036.00022.00038.000
02/08/1645.00036.00020.00038.000
09/08/1646.00035.00020.50038.000
16/08/1646.50035.00023.00050.000
23/08/1646.50029.00026.00050.000
30/08/1646.50028.00026.00050.000
06/09/1647.00030.00026.00050.000
13/09/1647.50035.00026.00050.000
20/09/1646.00034.50021.00046.000
27/09/1646.00035.00023.00046.000
04/10/1644.50035.00024.00045.000
11/10/1643.00035.00024.00045.000
18/10/1642.00035.00023.00045.000
25/10/1641.00035.00023.00045.000
01/11/1641.00036.00022.00032.000
08/11/1640.50035.00022.00032.000
15/11/1642.00036.00022.00032.000
22/11/1641.50037.00024.00032.000
30/11/1640.50041.00021.50037.000
06/12/1639.50040.00020.50031.000
13/12/1639.50040.00020.50034.000
20/12/1638.50040.00020.50034.000
27/12/1637.50043.00022.00034.000
03/01/1732.00043.00024.00040.000
10/01/1734.00042.00024.00040.000
17/01/1733.00042.00026.00039.000
24/01/1731.00040.00026.00039.000
31/01/1731.00039.00027.00040.000
07/02/1735.00034.00024.00041.000
14/02/1734.00026.00018.00030.000
21/02/1735.00026.00017.00030.000
28/02/1735.00025.00019.00028.000
07/03/1734.00021.00026.50028.000
14/03/1732.00026.00029.50028.000
21/03/1731.00030.00031.00032.000
28/03/1730.00029.00033.00036.000
04/04/1730.00028.00035.00037.000
11/04/1730.00032.00035.00034.000
18/04/1728.00034.00035.00034.000
25/04/1726.00030.50024.00028.000
02/05/1725.00030.00023.00028.000
09/05/1726.50031.00025.00032.000
16/05/1726.00030.00026.50034.000
23/05/1726.00030.00026.50034.000
30/05/1725.00028.00024.50034.000
06/06/1726.00030.00025.50034.000
13/06/1726.00025.00025.50032.000
20/06/1726.00025.00023.00033.000
27/06/1725.00022.50024.00033.000
04/07/1725.00023.00023.50033.000
11/07/1728.00025.00026.00033.000
18/07/1742.00024.00026.50027.000
25/07/1738.00029.00026.00028.000
01/08/1737.00030.00025.00035.000
08/08/1735.00032.00024.50035.000
15/08/1733.50033.00025.00035.000
22/08/1732.00033.00028.00034.000
29/08/1731.00033.00029.00041.000
05/09/1732.00035.00029.00041.000
12/09/1732.00037.00024.00041.000
19/09/1731.00037.00024.00043.000
26/09/1731.00038.00024.00043.000
03/10/1730.00039.00023.00043.000
10/10/1729.00040.00021.00043.000
17/10/1729.00043.00021.00037.000
24/10/1728.00040.00021.00037.000
31/10/1729.00039.00023.00037.000
07/11/1729.00034.00025.00037.000
Biểu đồ: Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam


THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU
Theo Bộ NN&PTNT ước tình hình nhập khẩu TACN và nguyên liệu trong tháng 11/2017 như sau:
Thức ăn gia súc và nguyên liệu:
Ước giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng 11/2017 ước đạt 175 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng này 11 tháng đầu năm 2017 lên 2,9 tỷ USD, giảm 8,1% so với cùng kỳ năm 2016. Thị trường nhập khẩu chính của nhóm mặt hàng này trong 10 tháng đầu năm 2017 là Achentina (chiếm 48,3% thị phần), tiếp đến là Hoa Kỳ (7,2%), Trung Quốc (4,9%) và Ấn Độ (chiếm 4,2% thị phần). Trong đó, thị trường có tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là thị trường Canada (tăng hơn 6 lần) tiếp đến là các thị trường Ấn Độ và Indonesia với tỷ lệ tăng lần lượt là 73,6% và 15,3%. Ngược lại, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu của thị trường Trung Quốc và Hoa Kỳ giảm mạnh, mức giảm lần lượt là 41,9% và 35%.
Đậu tương:
Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 11/2017 đạt 166 nghìn tấn với giá trị 72 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương 11 tháng đầu năm 2017 ước đạt 1,54 triệu tấn và 662 triệu USD, tăng 15,1% về khối lượng và tăng 16,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.
Ngô:
Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 11/2017 đạt 893 nghìn tấn với giá trị đạt 169 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 11 tháng đầu năm 2017 đạt 7,35 triệu tấn và 1,43 tỷ USD, giảm 1,5% về khối lượng và giảm 3,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Achentina và Braxin là hai thị trường nhập khẩu ngô chính trong 10 tháng đầu năm 2017, chiếm thị phần lần lượt là 52,9% và 25,8% tổng giá trị nhập khẩu của mặt hàng này. Trong 10 tháng đầu năm 2017, khối lượng nhập khẩu ngô tăng mạnh nhật tại thị trường Thái Lan gấp 13,4 lần so với cùng kỳ năm 2016 nhưng giá trị lại chỉ gấp 2,96 lần. Ngược lại, thị trường Brazil lại có khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này đều giảm hơn 40% so với cùng kỳ năm 2016.
Tuy không phải là thị trường nhập khẩu chủ lực nhưng 10 tháng đầu năm nay Việt Nam tăng nhập khẩu ngô từ Thái Lan, mặc dù giá nhập bình quân là 333 USD/tấn, giảm 77% so với cùng kỳ 2016.
Số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam cho thấy, tháng 10/2017 cả nước đã nhập khẩu 848,7 nghìn tấn ngô, trị giá 158,7 triệu USD, tăng 7,6% về lượng và 7,6% về trị giá – đây là tháng tăng thứ hai liên tiếp – nâng lượng ngô nhập khẩu 10 tháng 2017 lên 6,4 triệu tấn, trị giá 1,2 tỷ USD, giảm 4,47% về lượng và giảm 5,33% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016.
Theo tính toán số liệu từ TCHQ Việt Nam, thì trong 10 tháng năm 2017 Việt Nam gia tăng nhập khẩu ngô từ thị trường Thái Lan, tuy Thái Lan chỉ đứng thứ ba về lượng ngô nhập khẩu, nhưng so với cùng kỳ 2016 tốc độ nhập khẩu ngô của Việt Nam từ thị trường tăng gấp hơn 13,4 lần về lượng và gấp 2,9 lần về trị giá, tương ứng với 153 nghìn tấn, trị giá 50,9 triệu USD.
Thị trường có tốc độ tăng mạnh đứng thứ hai sau Thái Lan là Lào, tăng gấp hơn 2,7 lần về lượng và 2,5 lần về trị giá, tuy lượng chỉ đạt 2,1 nghìn tấn, trị giá 418.4 nghìn USD.
Ngoài ra, nhập khẩu ngô từ thị trường Ấn Độ cũng có lượng ngô nhập khẩu tăng khá, tăng gấp hơn 2,2 lần tuy nhiên kim ngạch lại suy giảm 3% so với cùng kỳ.
Việt Nam nhập ngô chủ yếu từ thị trường Achentina chiếm 54% tổng lượng nhóm hàng nhập khẩu, đạt 3,4 triệu tấn, trị giá 667,9 triệu USD, tăng 9,5% về lượng và tăng 9,02% về trị giá so với 10 tháng năm 2016.
Thị trường nhập lớn đứng thứ hai là Brazil nhưng so với cùng kỳ lại giảm cả lượng và trị giá, giảm lần lượt 42,8% và 44,5% tương ứng với 1,7 triệu tấn, trị giá 50,9 triệu USD.
Nhìn chung, 10 tháng 2017 lượng ngô nhập từ các thị trường đều tăng trưởng, chiếm 67% và ngược lại thị trường suy giảm chiếm 33%, trong đó nhập từ Brazil là giảm mạnh nhất.

Thị trường
10 tháng 2017
So sánh cùng kỳ năm 2016 (%)
Tấn
USD
Lượng
Trị giá
Tổng
6.454.193
1.263.674.863
-4,47
-5,33
Achentina
3.495.836
667.922.965
9,50
9,02
Brazil
1.726.305
326.264.685
-42,80
-44,50
Thái Lan
153.018
50.962.082
1.244,62
196,67
Campuchia
8.500
2.158.300
-28,28
-26,75
Lào
2.130
418.400
177,34
154,87
Ấn Độ
1.071
1.308.491
122,20
-3,00






















Lúa mì:
Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 11/2017 đạt 239 nghìn tấn với giá trị đạt 58 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này 10 tháng đầu năm 2017 đạt 4,28 triệu tấn và 915 triệu USD, giảm 4,2% về khối lượng và giảm 3,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Ba thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 10 tháng đầu năm 2017 là Úc, Canada và Nga với thị phần lần lượt là 46%, 22,1% và 6,7%. Mười tháng đầu năm 2017 ba thị trường nhập khẩu lúa mì này đều có sự gia tăng mạnh cả về khối lượng và giá trị. Trong đó, thị trường Canada có khối lượng lúa mì tăng hơn 16 lần và giá trị tăng hơn 13 lần, thị trường Nga có khối lượng nhập khẩu lúa mì tăng 4,9 lần và giá trị tăng 5,2 lần và thị trường Úc có khối lượng nhập khẩu lúa mì tăng 24,9% và giá trị tăng 21,7%. Thị trường có giá trị nhập khẩu giảm mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là thị trường Hoa Kỳ (giảm 93,3%).


THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

Sắn và các sản phẩm từ sắn:
Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 11 năm 2017 ước đạt 374 nghìn tấn với giá trị đạt 107 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 11 tháng đầu năm 2017 ước đạt 3,53 triệu tấn và 912 triệu USD, tăng 5,5% về khối lượng và tăng 0,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Trong 10 tháng đầu năm 2016, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính, chiếm tới 87,7% thị phần, tăng 6,1% về khối lượng và tăng 0,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Trong 10 tháng đầu năm 2017, Các thị trường có giá trị nhập khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn giảm mạnh là: Hàn Quốc (-21,7%) và Đài Loan (-11,2%).

Pháp luật - Dân trí điện tử - Dantri.com.vn