Chứng nhận hợp quy chất lượng sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Tuân thủ đúng pháp luật, lấy lòng tin của khách hàng, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.

Đa dạng hóa sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Cung cấp thông tin khoa học, dây chuyền sản xuất, các sản phẩm thức ăn chăn nuôi trong nước và quốc tế.

Đồng hành cùng các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Chắp cánh cùng doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi vươn xa tầm quốc tế.

Thông tin và cơ chế pháp luật trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Cung cấp các thông tin và quy định văn bản pháp luật hiện hành cùng cách triển khai tới các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi.

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2018

Doanh nghiệp FDI đang dần thâu tóm chăn nuôi Việt

Một thực tế được thống kê lại gần đây đó là việc nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu ngày một tăng vọt. Chỉ trong tháng 1-2018 đã đạt 336 triệu USD, tăng 48,02% so với tháng trước và tăng 30,2% so với cùng kỳ năm 2017. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này của cả năm 2017 là 3,2 tỉ USD. Như vậy các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi nhập khẩu bình quân gần 267 triệu USD/tháng (theo Tổng cục Hải quan). 

Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi tăng “nóng”, trong nước lại thiếu vai trò chủ đạo của một “nhạc trưởng” nên các trang trại chăn nuôi lợn nhỏ lẻ đang ngày càng thu hẹp, còn các doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thì ngày càng mở rộng quy mô sản xuất...

Mỗi ngày, TP Hồ Chí Minh tiêu thụ khoảng 8.000 – 10.000 con lợn, trong đó chiếm phần lớn là lợn ở ngoại tỉnh, có “xuất xứ” từ Đồng Nai. Trong những ngày cuối năm 2017, người chăn nuôi khấp khởi mừng thầm vì sau thời gian dài được “giải cứu”, giá lợn hơi đã được cải thiện đáng kể, đỉnh điểm tăng đến mức 33.000 đồng/kg.
Giá thịt lợn liên tục sụt giảm khiến ngành chăn nuôi trong nước lao đao.


Tuy nhiên, niềm vui ấy chưa được bao lâu thì giá lợn hơi đã lao xuống mức thấp, chỉ còn từ 27.000 – 29.000 đồng/kg, trong khi giá lợn xuất chuồng khoảng 30.000 đồng/kg, người nuôi nhỏ lẻ vẫn bị lỗ. Đáng lo ngại, mức giá này đã duy trì sang những ngày đầu năm 2018.

Ông Vũ Văn Tiến, chủ trang trại 500 con lợn thịt tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai so sánh: “Dịp Tết, giá 1kg khổ qua 80.000 đồng nhưng cũng với số tiền đó thì người tiêu dùng mua đến hơn 2kg thịt lợn. Cũng chính vì giá thịt lợn lao dốc mạnh như vậy mà trước Tết, thương lái đặt cọc mua 80 con lợn của trang trại tôi nhưng sau đó họ chỉ bắt 50 con, bỏ 30 con vì càng bán càng lỗ”.

Theo ông Tiến, trong Tết, nhu cầu tiêu thụ thịt lợn tăng mạnh nhưng giá lợn hơi “lao dốc” thì sau Tết khó tăng trở lại do nhu cầu sử dụng thịt lợn sau Tết giảm mạnh. Cũng với những tâm tư giống như ông Tiến, nhiều hộ chăn nuôi lợn ở Đồng Nai cũng không được vui do lợn bán lỗ, các chi phí (như cám, thuốc thú y...) buộc phải thanh toán cho các chủ nợ.

“Trước đây, do thiếu vốn các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ cầm cố sổ đỏ cho ngân hàng để vay tiền. Tuy nhiên, khoảng hai năm nay, giá lợn hơi phập phồng giảm giá nhiều hơn tăng giá khiến người chăn nuôi liên tục bị thua lỗ. Những hộ không còn khả năng đeo bám thì đành phải treo chuồng. Những hộ muốn duy trì chăn nuôi thì không còn cầm sổ đỏ nữa mà đã chuyển sang bán hết đất đai để trả nợ. Số hộ chống chọi được với nghề hiện còn rất ít”, một hộ chăn nuôi ở Đồng Nai cho biết.

Để cầm cự trong thời gian khó khăn này, người chăn nuôi đã cắt giảm bớt những công đoạn làm tăng thêm chi phí. Cụ thể, với mặt hàng cám làm thức ăn chăn nuôi, bà con đã liên hệ trực tiếp với các công ty cung cấp cám để lấy hàng tận gốc, cắt bỏ khâu trung gian.

Lý giải về việc giá thịt lợn giảm mạnh, ông Nguyễn Kim Đoán, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai cho rằng, khi xảy ra tình trạng khủng hoảng giá vào đầu năm 2017, nếu các đơn vị chăn nuôi chủ động thực hiện việc giảm đàn thì đã cân đối được cung - cầu và giá cả hợp lý, không xảy ra tình trạng dội hàng, giảm giá như trong dịp Tết Nguyên đán vừa qua.

Tại Đồng Nai, tổng đàn lợn trong năm 2015 có 1,6 triệu con, năm 2016 có 1,7 triệu con và được thị trường Trung Quốc tiêu thụ rất mạnh. Đến cuối năm 2017, mặc dù các cơ quan chức năng kêu gọi các đơn vị chăn nuôi phải giảm đàn, để tránh xảy ra khủng hoảng thừa nhưng tổng đàn lợn tại Đồng Nai vẫn còn khoảng 2 triệu con.

Theo ông Nguyễn Trí Công, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi tỉnh Đồng Nai, có đến 50% trang trại nhỏ lẻ tự đóng cửa, bỏ nghề do ngành chăn nuôi khó khăn liên tiếp nhiều năm qua.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do người chăn nuôi nhỏ lẻ tự “bơi” là chính, không có “nhạc trưởng” để dẫn đầu và quản lý đối với ngành chăn nuôi rất chồng chéo. Thực tế hiện nay cho thấy, với ngành chăn nuôi lợn thì phần lớn các hộ chăn nuôi, trang trại nhỏ... bị sụp đổ. Còn những DN lớn với tiềm lực tài chính dồi dào không bị ảnh hưởng nhiều.

Theo Hiệp hội Chăn nuôi tỉnh Đồng Nai, 2 năm qua, ngành chăn nuôi Việt Nam tăng trưởng tốt, song chủ yếu là nhờ vào sự tăng trưởng của khối DN FDI. Khi giá lợn hơi “lao dốc”, người nuôi nhỏ lẻ bị lỗ nhưng các trang trại quy mô lớn, nhất là các DN DFI không bị lỗ hoặc lỗ không đáng kể do có chuỗi sản xuất khép kín từ đầu vào đến đầu ra nên cắt giảm được các chi phí và giá thành thấp.

Với giá lợn hơi như hiện nay, nhiều người lo ngại, nếu tình hình không được cải thiện thì chỉ cần vài tháng nữa, các hộ nông dân chăn nuôi nhỏ lẻ sẽ “chết” hoặc chuyển sang chăn nuôi thuê cho các DN FDI, hay nói cách khác, ngành chăn nuôi trong nước phần lớn rơi vào tay của các DN FDI. Điển hình như công ty CP, ban đầu chỉ đầu tư cám, sau đó mở rộng quy mô chăn nuôi lợn, gà và đến thời điểm hiện nay thì nhà nhà, người người đầu tư trang trại chăn nuôi thuê cho DN FDI này.

Để phát triển ngành chăn nuôi trong nước tránh rơi vào tay của các DN FDI, ông Nguyễn Trí Công cho rằng, các hộ chăn nuôi không thể tiếp tục duy trì việc phát triển nhỏ lẻ như trong thời gian qua. Để chăn nuôi phát triển được thì cần phải chủ động nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, chế biến cho sản phẩm đầu ra. Bên cạnh đó, cần xác định rõ vai trò “nhạc trưởng” trong hoạt động chăn nuôi để có kế hoạch phát triển cụ thể, điều phối cung – cầu thị trường.
Để cạnh tranh hơn với các doanh nghiệp ngoại cũng như khẳng định vị thế và ảnh hưởng cho doanh nghiệp, quý công ty có thể liên hệ với Công ty chứng nhận và kiểm định Vinacontrol để được nhận hỗ trợ và tư vấn về dịch vụ hợp quy thức ăn chăn nuôi một cách hiệu quả, nhanh chóng. 

Thứ Tư, 28 tháng 2, 2018

Doanh nghiệp kêu phiền toái vì Bộ Nông nghiệp kiểm tra chồng chéo


Tại hội thảo lấy ý kiến doanh nghiệp về dự án Luật Chăn nuôi (sửa đổi) ngày 6/12, nhiều doanh nghiệp phàn nàn về tình trạng kiểm tra nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chồng chéo, gây khó khăn. 

Kết quả hình ảnh cho thức ăn chăn
Ông Lê Giang - đại diện Công ty TNHH Vĩnh An, cho hay, việc kiểm tra nguyên liệu chẳng những khiến công ty mất thời gian mà còn tốn nhiều chi phí.
Cụ thể, từ năm 2013 tới nay, doanh nghiệp này đã mất gần 1 tỷ đồng cho chi phí kiểm nghiệm chất lượng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Tính trung bình, mỗi năm mất khoảng 300 triệu đồng.
Hơn thế nữa, chi phí kiểm tra còn tính trên giá trị lô hàng. Chi phí kiểm tra độ đạm mất khoảng 350.000 đồng mỗi lần, nhưng cơ quan quản lý thu phí tính trên giá trị lô hàng, ví dụ lô hàng trị giá nửa triệu USD mất khoảng 9 triệu đồng tiền phí.
Mặt khác, cùng một con tàu, cơ quan quản lý chỉ lấy 1-2 mẫu, tuy nhiên tàu đó chở hàng cho khoảng 60 chủ hàng, thì vẫn lấy phí của tất cả 60 chủ hàng đó, nhiều trường hợp chi phí cả tàu lên tới 1 tỷ đồng.
Thời gian kiểm tra thực tế kéo dài đến 48 tiếng, thậm chí có trường hợp kéo dài 72 tiếng, tức 3 ngày. Điều này dẫn đến chi phí lưu kho lưu bãi của các doanh nghiệp là "khủng khiếp". 
"Mà nói thật là theo chúng tôi biết, thì họ không kiểm tra gì cả. Ví dụ chỉ tiêu về đạm, chỉ cần lệch nhau nửa độ đạm thì các doanh nghiệp đã nhảy lên rồi, nhưng kết quả kiểm tra họ lệch tới 3 độ. Khi chúng tôi kêu thì các ông ấy chỉnh sửa, lại đúng", ông Giang nêu thực tế.
Một vấn đề khác khiến doanh nghiệp đau đầu là tình trạng kiểm tra chồng chéo. Các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi vừa bị cơ quan quản lý chất lượng kiểm tra, vừa bị các cơ quan kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật kiểm tra.
"Ở các cảng phía Nam thì việc kiểm dịch rất nhanh, sáng hàng đến thì chiều thông quan, nhưng ở cảng Hải Phòng thì phải mất 48 tiếng mới cấp chứng thư. Thời gian kéo dài lê thê, mệt mỏi vô cùng, nhất là nếu trùng thứ Bảy, Chủ Nhật", ông Giang bức xúc.
Cùng ý kiến với ông Giang, nhiều doanh nghiệp cho rằng việc nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi thường có khối lượng rất lớn, lên tới hàng chục nghìn tấn, nếu thời gian làm thủ tục kéo dài thì chi phí rất lớn, chất lượng sản phẩm cũng bị ảnh hưởng, rất phiền toái cho doanh nghiệp.
Về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Kim Anh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thừa nhận, trong việc quản lý vật tư nông nghiệp đang có sự chồng chéo giữa các đơn vị kiểm tra chất lượng, kiểm dịch thực vật, kiểm dịch động vật trong cùng Bộ. 
"Tuy nhiên, chúng tôi đã làm việc với các cơ quan và thống nhất theo hướng một mặt hàng thì chỉ một đơn vị chủ trì, các đơn vị khác phối hợp và chỉ lấy mẫu 1 lần", bà nói.
Bà Kim Anh cũng cho biết Bộ sẽ kiểm tra lại những phản ánh của doanh nghiệp, nếu đúng sẽ cương quyết chấn chỉnh.
"Sang tuần tới, chúng tôi sẽ đi kiểm tra ở Hải Phòng và Quảng Ninh, chúng tôi sẽ trực tiếp làm việc với doanh nghiệp của anh Lê Giang. Bộ đã hứa là sẽ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, Bộ sẽ làm", Vụ trưởng Vụ Pháp chế cam kết.
Doanh nghiệp có nhu cầu thực hiện hợp quy thức ăn chăn nuôi vui lòng liên hệ công ty chứng nhận và kiểm định Vinacontrol để được nhận tư vấn và hỗ trợ. 

Thứ Ba, 20 tháng 2, 2018

Độc tố nấm mốc nỗi lo của ngành chăn nuôi hiện đại

Độc tố nấm được biết đến là một sản phẩm của quá trình trao đổi chất thứ cấp của nấm mốc trên hầu hết các loại ngũ cốc trên toàn thế giới. Chúng xuất hiện trong điều kiện tự nhiên, trong thức ăn chăn nuôi cũng như trong thực phẩm cho người. Theo FAO có tới 25% lượng ngũ cốc thu hoạch trên thế giới đều nhiễm độc tố nấm mốc.

Hình ảnh có liên quan
Độc tố nấm mốc nỗi lo của ngành chăn nuôi hiện đại
Hiện tại có hơn 400 loại độc tố được biết đến. Trong đó có sáu loại chính và gây thiệt hại kinh tế nặng nề là: aflatoxin, trichothecenes, fumonisins, zearalenone, ochratoxin và ergot alkaloids. Chúng được hình thành bởi các loại nấm và mỗi loài nấm có thể sản xuất nhiều hơn một loại độc tố. Các loại độc tố chính được hình thành từ các loại nấm được liệt kê trong bảng dưới đây.
Phân loại nấm độc tố sản xuất
Các loại độc tố nấm mốc chính
Loài nấm
Độc tố nấm
Aspergillus
A. flavus
A. parasiticus
A. nomius
A. pseudotamarii
Aflatoxin
(B 1, B 2, G 1, G 2)
A. ochraceus
Ochratoxin
(Ochratoxin A)
A. clavatus
A. terreus
Patulin
A. flavus
A. ben
Axit Cyclopiazonic (CPA)
Claviceps
C. purpurea
C. fusiformis
C. paspali
C. africana
Một Penitrem
Ergot alkaloids:
Clavines (Argroclavine)
Axit lysergic
Amids lysergic acid (Ergin)
Ergopeptines (Ergotamine, Ergovaline)
Fusarium
F. verticillioides
(Syn. F. moniliforme)
F. proliferatum
Fumonisin (B 1, B 2, B 3)
Axit fusaric
F. graminearum
F. avenaceum
F. culmorum
Loại A Trichothecenes
T-2 toxin, HT-2 độc tố,
diacetoxyscirpenol
F. poae
F. equiseti
F. crookwellense
F. acuminatum
F. sambucinum
F. sporotrichioides
Loại B Trichothecenes
Nivalenol
deoxynivalenol
fusarenon-X
F. graminearum
F. culmorum
Zearalenone
F. sporotrichioides
Penicillium
P. verrucosum
P. viridicatum
Ochratoxin
(Ochratoxin A)
P. citrinum
P. verrucosum
Citrinin
P. roqueforti
Roquefortine
PR độc tố
Một Pentirem
P. cyclopium
P. camemberti
Axit Cyclopiazonic (CPA)
Một Pentirem
P. expansum
P. claviforme
P. roquefortii
Patulin
Neotyphodium
(Trước đây là Acremonium)
N. coenophialum
Cây roi nhỏ độc tố cao:
Ergot alkaloids, lolines, peramine
N. lolii
Cây roi nhỏ độc tố cao:
Lolitrems, peramine, ergot alkaloid
(ergovaline)
Pithomyces
P. chartarum
Sporidesmin


Các độc tố nấm có sự khác nhau về cấu trúc, điều này giải thích cho sức ảnh hưởng của chúng tới sức khỏe vật nuôi hay sự đã rạng các biểu hiện bên ngoài và gây những thiệt hại kinh tế nghiêm trọng. Các tác động của độc tố chính là các chất gây ung thư, đột biến gen, suy thận, nhiễm độc gan, rối loạn sinh sản, suy giảm miễn dịch hoặc các phản ứng dị ứng.


Có một số yếu tố ảnh hưởng đến những biểu hiện trên.



- Loại độc tố nấm mốc sử dụng, số lượng và thời gian sử dụng.


- Loài động vật, giới tính, giống, tuổi tác, sức khỏe nói chung, tình trạng miễn dịch tự nhiên.


- Quản lý trang trại: vệ sinh, nhiệt độ, mật độ sản xuất.


- Có thể có sự kết hợp giữa các độc tố đồng thời có mặt trong thức ăn.

Độc tố nấm có thể vẫn xảy ra khi đã tiến hành lấy mẫu phân tích do:


- Thứ nhất, độc tố nấm thường xảy ra tại một điểm, một phần rất nhỏ bị mốc cũng có thể ảnh hưởng lớn tới cả lô nguyên liệu do đó việc lấy mẫu nếu không tuân thủ đúng quy trình để có được những mẫu đại diện thì không thể có kết quả chính xác.

- Thứ hai, độc tố nấm mốc ở dạng chưa hoạt động có thể xuất hiện trong thức ăn. Mycotoxin chưa hoạt động có tính chất hóa học và các phản ứng sinh hóa không ảnh hưởng tới con người và vật nuôi nhưng khi độc tố nấm mốc có thể được liên kết với một số nguyên liệu thức ăn ví dụ như glycosides, glucuronides, este acid béo và protein.

Do đó, các độc tố nấm mốc chưa hoạt động thường không được phát hiện với phương pháp phân tích thông thường, tức là trong các mẫu kiểm tra thường xuyên sẽ cho biết là không có độc tố (các tiền độc tố không được phát hiện bởi các test kiểm tra thông thường), nhưng trong khi thực chất trong mẫu có chứa độc tố nấm mốc chưa hoạt động.

Mỗi loại nấm có thể sản xuất nhiều hơn một loại độc tố. Nên có nhiều độc tố nấm mốc có mặt cùng một lúc trong thức ăn, do đó làm tăng các nguy cơ gây nên ngộ độc và có các biểu hiện triệu chứng rất phức tạp do đó việc xử lý để đảm bảo sức khỏe vật nuôi và tăng năng suất. Tuy nhiên cũng có một số độc tố khi tác dụng hiệp đồng (cùng lúc) không nguy hiểm bằng tác động độc lập. Nhưng đa số các phản ứng hiệp đồng thường gây hậu quả nặng nề hơn, có thể nguy hiểm hơn cả hai hay nhiều độc tố nấm mốc tác động một mình cộng lại.
Bảng ảnh hưởng của độc tố nấm mốc
Độc tố nấm mốc
Ảnh hưởng có thể
Aflatoxins
+ Ảnh hưởng tới gan, tác dụng gây ung thư và gây quái thai
+ Xuất huyết (đường ruột, thận)
+ Tốc độ tăng trưởng giảm
+ Giảm hiệu suất
+ Ức chế sinh miễn dịch
Ochratoxins
Gây độc ở thận
+ Gây ung thư
+ Tổn thương gan nhẹ
+ Ruột
+ Gây quái thai
+ Giảm hấp thu thức ăn,  tốc độ tăng trưởng giảm
+ Ức chế miễn dịch
Fumonisins
Gây phù phổi
Ức chế sinh miễn dịch
Trichothecenes
Rối loạn tiêu hóa (nôn, tiêu chảy, giảm ăn), giảm cân
+ Xuất huyết (dạ dày, tim, ruột, phổi, bàng quang, thận)
+ Phù nề
+ Tổn thương răng miệng
+ Viêm da
+ Bệnh về máu
+ Vô sinh
+ Sự thoái hóa của tủy xương
+ Tăng trưởng chậm
+ Ức chế miễn dịch
Zearalenone
+ Phù nề của âm hộ, sa âm đạo, mở rộng của tử cung
+ Teo tinh hoàn, teo buồng trứng
+ Phì đại tuyến vú
+ Vô sinh
Ergot alkaloids
Hội chứng thần kinh hoặc hoại tử
+ Rối loạn tiêu hóa (nôn, tiêu chảy, từ chối thức ăn)
+ Giảm cân
+ Co giật
+ Hủy hoại thai 
Fescue toxins
+ Tác dụng trong các hệ thống miễn dịch và sinh sản
+ Giảm cân
+ Lượng thức ăn thấp hơn
+ Hành vi bất thường, yếu kém nói chung, co giật
Axit Cyclopiazonic
+ Tác dụng hoại tử (gan, mô đường tiêu hóa, thận, cơ xương)
+ Gây ung thư
+ Độc thần kinh
Citrinin
+ Độc thận
+ Gây quái thai
+ Gan có ảnh hưởng
Roquefortine
Độc thần kinh
Patulin
Làm biến đổi gen
Độc thần kinh
Ức chế miễn dịch

Thứ Bảy, 17 tháng 2, 2018

Chăn nuôi về với tự nhiên

Xã hội càng phát triển mạnh mẽ công nghiệp, dịch vụ thì con người càng có xu hướng tìm về với những sản phẩm mang tính tự nhiên. Bởi thế, tuy mới khởi xướng nhưng mô hình nuôi gà thả vườn của Hà Nội đã hứa hẹn một bước đi đúng hướng…

Phát triển mô hình chuỗi


Hiện trên địa bàn Hà Nội chăn nuôi gà thả vườn phát triển rất mạnh chiếm 58,7% tổng đàn gà của thành phố. Tận dụng thức ăn từ tự nhiên hoặc các phụ phẩm nông nghiệp như ngô, cám, rau xanh nên gà có chất lượng thịt thơm, ngon và ngày càng được người tiêu dùng đánh giá cao.

Hướng tới lợi ích chăn nuôi lâu dài và bền vững của gà thả vườn, Hà Nội đã xây dựng thành công nhãn hiệu tập thể “Gà Mía Sơn Tây”, “Gà đồi Ba Vì” và “Gà đồi Sóc Sơn”. Thành phố cũng đã xây dựng dựng được 21 chuỗi liên kết chăn nuôi – tiêu thụ sản phẩm trong đó có một số mô hình chuỗi chăn nuôi tiêu thụ sản phẩm thịt gà hoạt động tương đối hiệu quả.


Mô hình nuôi gà Mía thuần của Trung tâm Khuyến nông Hà Nội


Thứ nhất phải kể đến chuỗi sản xuất và tiêu thụ gà Mía Sơn Tây do Hội Chăn nuôi và tiêu thụ gà Mía Sơn Tây tổ chức với trên 30 hội viên, quy mô nuôi thường xuyên 100.000 con (80.000 gà đẻ và 20.000 gà thịt). Mô hình đã chuẩn hóa quy trình chăn nuôi đảm bảo an toàn sinh học và xây dựng được quy chế quản lý chuỗi, chất lượng sản phẩm, hàng tháng cung cấp cho thị trường khoảng 1 triệu con giống 1 ngày tuổi và 3.000 kg gà Mía thịt chất lượng cao.


Thứ hai là chuỗi sản xuất và tiêu thụ gà đồi Ba Vì do Hội Chăn nuôi và tiêu thụ gà đồi Ba Vì tổ chức. Chuỗi đã thu hút và lựa chọn được 65 hộ chăn nuôi, 1 cơ sở giết mổ, 1 công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi tham gia liên kết chuỗi với quy mô chăn nuôi thường xuyên khoảng 700.000 con.

Chuỗi đã bước đầu xây dựng được kênh tiêu thụ sản phẩm gà thịt được giết mổ, đóng gói đảm bảo ATTP mang nhãn hiệu “Gà đồi Ba Vì” qua hệ thống cửa hàng tiện ích và hệ thống nhà hàng tại khu vực nội thành Hà Nội. Sản lượng tiêu thụ qua kênh này đạt khoảng 3 tấn/tháng.

Thứ ba là mô hình chuỗi chăn nuôi và tiêu thụ gà đồi Sóc Sơn do Hội Chăn nuôi và tiêu thụ gà đồi Sóc Sơn tổ chức, thu hút 60 hộ chăn nuôi, 1 cơ sở giết mổ, 1 Công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi tham gia liên kết với quy mô thường xuyên đạt 30.000 con gà thịt, cung cấp cho thị trường trên 300 kg /ngày.

Bên cạnh những chuỗi do các hội chăn nuôi sáng lập còn có chuỗi do doanh nghiệp sáng lập. Chuỗi thực phẩm sạch 3F được hình thành trên cơ sở liên kết hợp tác giữa Công ty Cổ phần chế biến thực phẩm 3F (đơn vị giết mổ, chế biến và tiêu thụ) với các trại chăn nuôi lợn, gia cầm tại huyện Thạch Thất, TP Hà Nội và một số huyện của tỉnh Vĩnh Phúc. Nhờ tiềm lực kinh tế nên quy mô và năng lực sản xuất của chuỗi này khá lớn với 1 nhà máy giết mổ, 200 trang trại gà, sản lượng cung cấp và tiêu thụ đạt 2,05 tấn thịt, 100.000 quả trứng gà/ngày.
Bảo tồn con gà tiến vua

Những năm vừa qua, do tốc độ công nghiệp hóa trong chăn nuôi nên một số giống gen nhập ngoại phát triển mạnh, các nguồn gen nội địa có nguy cơ mai một trong đó có gà Mía. Gà Mía là giống gà thịt cổ truyền nổi tiếng, tuy không xác định từ đời nào nhưng gốc tích gắn liền với tập quán văn hoá địa phương tại làng cổ Đường Lâm. Chất lượng thịt của chúng rất thơm ngon nên xưa kia được dùng làm lễ vật có giá trị dâng lên cung tiến cho vua.

Ảnh minh họa


Để bảo tồn và phát triển giống gà Mía, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Quyết định công nhận là một giống nằm trong danh mục nguồn gen vật nuôi quý hiếm, từ năm 2012 đến nay, UBND Thành phố đã có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển chăn nuôi. Đi theo hướng ấy, Trung tâm Khuyến nông Hà Nội đã xây dựng những mô hình nuôi gà Mía thuần thả vườn thay vì gà Mía lai như trước đây. Công ty TNHH MTV Đầu tư & PTNN Hà Nội là đơn vị được giao nhiệm vụ duy trì chọn lọc, nuôi giữ giống gà Mía cung ứng 2.241.287 con giống ra thị trường. Ngoài ra trên địa bàn Thành phố còn có nhiều cơ sở nuôi giống, ấp trứng cung cấp gà giống gà Mía thuần khác.

Tuy nhiên, việc phát triển đàn gà Mía vẫn còn nhiều khó khăn như phần lớn chăn nuôi theo hình thức nhỏ lẻ trong nông hộ, năng suất chất lượng và hiệu quả chưa cao với quy trình và phương thức khác nhau nên việc kiểm soát dịch bệnh và an toàn thực phẩm khó khăn. Các cơ sở sản xuất, cung ứng giống gà Mía đảm bảo chất lượng chưa nhiều (hiện mới có đàn gà của HADICO là được công nhận đàn giống gốc) nên không đủ giống thuần chủng cấp cho người chăn nuôi. Công tác truyền thông, tuyên truyền quảng bá thương hiệu sản phẩm gà Mía còn hạn chế…

Bởi thế mà định hướng phát triển trong thời gian tới của Hà Nội sẽ là tập trung duy trì chọn lọc đàn gà giống gốc sản xuất giống bố mẹ và giống thương phẩm cung cấp ra thị trường. Phát triển chuỗi và liên kết chuỗi gắn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gà Mía trên địa bàn Thành phố và các tỉnh. Phát triển ổn định về quy mô, nâng cao năng suất, chất lượng đối với chuỗi liên kết nêu trên với mục tiêu các sản phẩm của chuỗi đều an toàn, kiểm soát được chất lượng và truy xuất được nguồn gốc sản phẩm. Nhân rộng các mô hình chuỗi liên kết khép kín từ sản xuất sơ chế bảo quản tiêu thụ sản phẩm theo hướng cung cấp sản phẩm tại các địa phương và liên kết tiêu thụ sản phẩm với các doanh nghiệp tiêu thụ. Phát triển các cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm. Phát huy và sử dụng có hiệu quả nhãn hiệu tập thể của từng chuỗi liên kết đối với chăn nuôi và định hướng thị trường cho các chuỗi phù hợp với năng lực sản xuất, nhu cầu của thị trường. Tổ chức liên kết với các cơ sở giết mổ, tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài Thành phố.


Để làm được những điều đó đối với Bộ Nông nghiệp & PTNT cần chỉ đạo Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản phối hợp với Sở Nông nghiệp & PTNT trong việc định hướng và là cầu nối cơ sở sản xuất với doanh nghiệp tiêu thụ, hỗ trợ cơ sở sản xuất xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm hướng tới xuất khẩu.

UBND Thành phố Hà Nội cần ban hành chính sách hỗ trợ xây dựng chuỗi liên kết từ chăn nuôi, giết mổ, sơ chế đến tiêu thụ sản phẩm, cụ thể như: Hỗ trợ tổ chức hợp tác liên kết chăn nuôi; hỗ trợ xe chuyên dụng cho cơ sở giết mổ; hỗ trợ kho lạnh, thiết bị bảo quản cho cơ sở tiêu thụ sản phẩm. Chỉ đạo các sở, ngành, quận, huyện, thị xã tạo điều kiện về thủ tục thuê đất trong sản xuất và xây dựng cơ sở giết mổ, chế biến, thuê địa điểm bán hàng tại các khu đô thị, trung tâm thương mại để tiêu thụ sản phẩm. Chỉ đạo cơ quan quản lý nhà nước tăng cường kiểm tra việc sản xuất và lưu thông, xử lý những trường hợp vi phạm các quy định về ATTP và môi trường.

Pháp luật - Dân trí điện tử - Dantri.com.vn