Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2018

Lịch sử về quá trình nghiên cứu phát triển thức ăn – dinh dưỡng

Nghiên cứu thức ăn dinh dưỡng cho gia súc đã có lịch sử lâu đời. Ngày nay cùng với sự phát triển của chăn nuôi hiện đại, khoa học về dinh dưỡng ngày càng đạt đến trình độ chuyên sâu cao.

Trước thế kỷ 18, khoa học hầu như không có vai trò thực tiễn trong dinh dưỡng đây là giai đoạn phát triển tự nhiên trước khoa học của dinh dưỡng học.

Tiếp theo là kỷ nguyên của năng lượng hoá học, cha đẻ là nhà hoá học người Pháp Anatonie lourent Leevoiser (1743 – 1794) từ đây việc xác định nhu cầu của cơ thể sống được thực hiện, người ta phát hiện ra các chất bột đường, chất béo, nhưng là những chất cung cấp năng lượng chính cho cơ thể. Nhà nghiên cứu đã tiến hành xác định vai trò của các chất này và nhu cầu của chúng đối với cơ thể.

Năm 1822 Baussingault, phát hiện muối có iod cho người không bị bướu cổ. Bắt đầu từ thế kỷ XX, người ta tin tưởng rằng các chất khoáng bao gồm muối ăn, Ca … và có thể Fe là những chất khoáng quan trọng trong dinh dưỡng gia súc.

Đầu thế kỷ XX, 1 khẩu phần bao gồm đầy đủ bột đường, chất béo, pro cùng 1 lượng chất xơ được cho là khẩu phần hoàn chỉnh.
Kết quả hình ảnh cho chất dinh dưỡng
Ảnh chỉ mang tính minh họa. 
Năm 1912, Basinuk Punkt đã phát hiện ra vỏ bao bên ngoài của vỏ gạo có một chất liên quan đến 1 loại bệnh sau này xác định được là Thiamin (vitamin B1). Từ đó kỷ nguyên vitamin học ra đời. Đến 1930 – 1940, thì phần lớn các vitamin được xác định. Chúng được phân lập trong thức ăn tổng hợp trong phòng thí nghiệm được chia làm 2 nhóm:

Đến giai đoạn này, hầu hết các chất dinh dưỡng được phát hiện và tiếp tục là thời kỳ phát hiện tiêu chuẩn ăn. Tiêu chuẩn ăn là bảng số liệu của một hay nhiều chất cần thiết cho các loài gia súc khác nhau với mục đích nuôi dưỡng khác nhau. Tiêu chuẩn cho ăn được thể hiện ở số lượng các chất dinh dưỡng yêu cầu/ngày hoặc tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần.

Kiểu thứ nhất sử dụng cho gia súc được cung cấp một lượng thức ăn nhất định trong suốt 24giờ và kiểu thứ 2 sử dụng cho gia súc được cho ăn với một khẩu phần không có sự giới hạn về thời gian cung cấp cho con vật. Thực ra việc xác định tiêu chuẩn ăn được xác lập năm 1810 bởi nhà khoa học Đức Thacr. Đến 1859, Grouxen và một số nhà nghiên cứu người Đức khác, đã sử dụng kết quả phân tích protein, chất béo, bột đường để xây dựng công thức tiêu chuẩn ăn cho gia súc ở các nông trại. Ngày nay, các chất dinh dưỡng cần thiết cho gia súc được phát hiện và tiêu chuẩn ăn cho các loài gia súc, gia cầm khác nhau đã được nghiên cứu trên cơ sở nhu cầu các chất dinh dưỡng của chúng khi khám phá ra rằng protein không phải được con vật sử dụng nguyên vẹn mà được sử dụng dưới dạng đơn vị cấu thành a.a, đồng thời với việc khám phá phương pháp xác định thành phần a.a cũng như việc sản xuất công nghiệp axit amin. Thì các nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu về nhu cầu các a.a của gia súc, gia cầm đã xuất hiện. Từ đây, một kỷ nguyên mới về nghiên cứu dinh dưỡng thức ăn của gia súc gia cầm ra đời, kỷ nguyên của a.a. Thành tựu nổi bật của ngành dinh dưỡng là xác định axit amin thiết yếu của Wiliam Rose và các cộng tác viên của trường Đại học Illinois vào năm 1930. Họ đã thiết kế từng a.a ở những mức độ khác nhau và xác định lượng cần thiết để sử dụng tối ưu protein trong khẩu phần. Từ kết quả của các nghiên cứu này, những người làm việc tại Illinois có thể phân loại a.a thành a.a thiết yếu và a.a không thiết yếu. Tuy nhiên, không phải tất cả các a.a có trong protein đều được tiêu hoá và hấp thu hoàn toàn mà có một tỷ lệ nhất định được tiêu hoá, hấp thu, nó tuỳ thuộc vào từng loại protein thức ăn, loại gia súc gia cầm, cũng như còn chịu ảnh hưởng của trạng thái sinh lý của con vật và điều kiện môi trường. Chính vì thế, mà việc xác định nhu cầu a.a tổng số không phản ánh đúng thực tế của con vật sử dụng và từ đó khái niệm a.a tiêu hoá ra đời. Việc nghiên cứu nhu cầu aa tiêu hoá gắn liền với các nghiên cứu invivo về xác định tỷ lệ tiêu hoá của các loại thức ăn trên các loại gia súc gia cầm và trạng thái sinh lý khác nhau. Đồng thời nghiên cứu nhu cầu các a.a thiết yếu không chỉ từng loại riêng lẻ mà còn quan tâm đến tỷ lệ tương đối của từng aa trong pro thức ăn sao cho phù hợp nhất với nhu cầu về a.a cho các mục đích khác nhau của cơ thể gia súc, gia cầm.

- Thập niên 50 – 60 là thời kỳ mới của ngành nghiên cứu gia súc khi các loại kháng sinh có thể làm tăng tốc độ và hiệu quả tăng trọng. Chúng được xem như ”những dược phẩm tuyệt vời”. Sau đó, lần lượt các chất cấy ghép, thức ăn bổ sung xuất hiện, mở ra kỷ nguyên của công nghệ sinh học. Nhờ công nghệ này mà ngày nay người ta có thể kiểm soát được những đặc tính không mong muốn hay sản xuất ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu, mục đích của con người.

- 1949, Jeeke làm việc trong phòng thí nghiệm Leradle phát hiện ra rằng kháng sinh là một chất mới gì đó được bổ sung vào thức ăn gia súc và chúng có thể cải thiện tốc độ sinh trưởng cũng như hiệu quả sử dụng thức ăn.

- Ngày nay, hơn 1000 loại thuốc được Cục quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho phép các nhà chăn nuôi sử dụng cho gia súc gia cầm và khoảng 80% số gia súc nuôi lấy thực phẩm được nhận thuốc trong suốt thời gian sống của chúng, khi được sử dụng hợp lý các nhà chăn nuôi đưa tới người tiêu dùng các loại thịt, trứng, sữa không độc, an toàn với một chi phí thấp hơn so với những cách thức sử dụng khác. Hiện nay trong số các loại chất bổ sung và các chất được cấy ghép mới đây đang được kiểm tra và sử dụng là những chất kháng khuẩn khác nhau kể cả kháng sinh, các tác nhân, enzyme và các chất điện giải, các loại hormone hoặc các chất tương tự như hormone để tận dụng tối đa các loại thức ăn ngày càng trở nên khan hiếm để cung cấp cho nhu cầu ngày càng cao trong chăn nuôi. Người ta chú trọng vào nghiên cứu các giải pháp nhằm tăng khả năng lợi dụng thức ăn của con vật. Đó là nghiên cứu các khả năng chế biến, loại trừ kháng dinh dưỡng, bẻ gãy các liên kết bền vững trong thức ăn để phóng thích các chất dinh dưỡng, làm tăng khả năng tiêu hoá và hấp thu thức ăn, kích thích sinh trưởng cũng như cải thiện sức khoẻ của vật nuôi. Nằm tăng năng suất và lợi dụng thức ăn của vật nuôi, người ta dùng các chất kích thích hoá học như hormone, chất kích thích sinh trưởng, kháng sinh… Tuy nhiên, việc sử dụng các chất này là cực kỳ nguy hiểm, đe doạ đến sức khoẻ con người, khi chúng còn tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi. Chìa khoá cho việc sử dụng các loại thuốc một cách an toàn là tuân theo các hướng dẫn cho phép được ghi trên báo bì, nhà chăn nuôi cần biết về các loại thuốc đã được cho phép sử dụng, liều dùng, phương pháp đưa thuốc vào cơ thể và thời gian ngừng sử dụng thuốc. Hơn một nửa các loại dược phẩm mà FDA cho phép sử dụng đòi hỏi thời gian ngưng sử dụng trước khi giết mổ hoặc trước các giai đoạn tiết sữa. FDA nhận thấy rằng khoảng 90% trường hợp vi phạm về chất tồn dư gây ra do các nhà chăn nuôi không đảm bảo cho thời gian ngưng sử dụng thuốc cho gia súc. Bất kỳ loại chất tồn dư bất hợp pháp ở những súc sản bán trên thị trường như: trong thịt, trứng, sữa có thể gây trở ngại cho việc buôn bán và thậm chí có thể dẫn tới việc xử phạt trong việc vận chuyển hàng hoá. Do đó, để sản xuất thực phẩm an toàn cho con người thì phải loại trừ các chế phẩm nguy hại này, nhưng cũng đòi hỏi phải duy trì năng suất vật nuôi. Giải pháp cho vấn đề này là sử dụng các chế phẩm sinh học không gây nguy hại cho người sử dụng, gồm các thảo dược, axit hữu cơ, enzyme probiotic.
Kết quả hình ảnh cho kỹ thuật ghép gen
Sự phát triển kỹ thuật ghép gen

Sự phát triển kỹ thuật ghép gen (còn được biết đến như là sự tổ hợp ADN) đã mở ra một thời đại mới.

23/5/1997, các nhà khoa học ở trường Đại học Callifornia – San Francisco đã thông báo một sự đột phá quan trọng khi một kết quả của việc thay đổi các gen - đưa các vi khuẩn bình thường vào trong các nhà máy có khả năng sản xuất ra insullin, một loại hormone có giá trị cần thiết trong việc điều trị bệnh tiểu đường, mà trước đây chỉ tách ra từ những con lợn, cừu, trâu, bò tại các lò mổ. Nhóm các nhà sản xuất thực phẩm liên kết với nhà sản xuất, nhà chế biến và những người tiêu thụ nắm bắt các lợi ích từ công nghệ sinh học từ sự phong phú của các sản phẩm có chất lượng cao. Tuy nhiên, tiến trình có thể bị chậm lại do quy định và do các vấn đề xã hội và một số nhà sản xuất, chế biến sẽ thay đổi và mất dần. Tuy nhiên, với sự mở cửa của thế kỷ 21, có thể dự đoán rằng tầm quan trọng của sự nuôi cấy nhờ công nghệ sinh học sẽ cạnh tranh với sự phát triển về cơ khí hoá, điều này làm tăng sản lượng nông nghiệp ở Mỹ lên gấp đôi và làm tăng năng suất lao động của con người trong 1 giờ lên gấp 20 lần.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Pháp luật - Dân trí điện tử - Dantri.com.vn